Tin mới đăng

Liên kết website

 

Hình hoạt động

Thông tin truy cập

Đang xem: 105
Tất cả: 1185073
Chuyên mục - Chính sách Người có công
Sơ kết giữa nhiệm kỳ công tác lao động người có công và xã hội nhiệm kỳ 2016 - 2020

Theo báo cáo, kết quả thực hiện công tác lao động người có công và xã hội giữa nhiệm kỳ 2016 - 2020, đạt được những thành tựu như sau:

1. Công tác dạy nghề, việc làm - an toàn lao động, lao động tiền lương - bảo hiểm xã hội

Giai đoạn từ năm 2016 đến 06 tháng đầu năm 2018, tỉnh Vĩnh Long đã tổ chức tuyển sinh đào tạo nghề cho 80.067 người, trong đó, tổ chức được 806 lớp đào tạo nghề cho 19.296 lao động nông thôn. Góp phần nâng tỷ lệ lao động có chuyên môn kỹ thuật của tỉnh từ 55,16% (tính từ đầu năm 2016) đạt 65,21% (tính đến 06 tháng năm 2018), ước đến cuối năm 2018 đạt 67%. Trong đó: nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề từ 35,12% (đầu năm 2016) đạt 44,22% (06 tháng năm 2018) ước đến cuối năm 2018 đạt 46%. Trình UBND tỉnh ban hành quy chế quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh; phối hợp với Tỉnh đoàn Vĩnh Long ban hành Chương trình phối hợp "tăng cường thực hiện công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động cho lực lượng đoàn viên, thanh niên trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long, giai đoạn 2017 - 2022"; hướng dẫn các cơ sở đào tạo thực hiện đào tạo nghề theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm cho lao động nông thôn; đào tạo nghề cho lao động nông thôn; mở các ngành nghề đào tạo mới: theo mô hình thí điểm của Dự án "Hỗ trợ hộ nghèo chăn nuôi bò giống, nâng cao đời sống" giai đoạn 2017 – 2020; nghề Xây dựng dân dụng gắn với hỗ trợ nhà ở cho hộ gia đình có điều kiện kinh tế khó khăn và các công trình phúc lợi xã hội; phối hợp thực hiện sáp nhập Trung tâm Dạy nghề và Giới thiệu việc làm với Trung tâm Giáo dục thường xuyên 08 huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh thành Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên; tạo điều kiện củng cố, tăng cường cơ sở vật chất, đào tạo phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên cho các Trung tâm góp phần nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh. Trình Ủy ban nhân dân thành lập mới 01 Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp tư thục, cấp mới giấy chứng nhận đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp cho 02 doanh nghiệp, nâng tổng số cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh hiện nay là 33 cơ sở bao gồm: 22 cơ sở giáo dục nghề nghiệp; 11 cơ sở giáo dục đại học, doanh nghiệp và cơ sở khác có tham gia hoạt động giáo dục nghề nghiệp.

Giai đoạn 2016 đến 6 tháng đầu năm 2018, giải quyết việc làm mới cho 79.068 lao động, đạt tỷ lệ 83,23% kế hoạch giai đoạn 2016 - 2020. Trong đó, xuất khẩu lao động 3.222 người, đạt tỷ lệ 80,55% kế hoạch giai đoạn 2016 - 2020. Hỗ trợ vay vốn và tạo việc làm từ nguồn vốn quỹ quốc gia giải quyết việc làm cho hơn 4.865 lao động với tổng doanh số cho vay 82.227 triệu đồng; hoàn thành điều tra cầu lao động tại 3.550 doanh nghiệp và cập nhật thông tin cung lao động của 820.657 lượt hộ trong tỉnh. Đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết quy định chính sách cho vay vốn hỗ trợ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2016 - 2020; UBND tỉnh ban hành Quyết định quy chế cho vay vốn hỗ trợ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016 - 2020. Từ năm 2017 đến nay, có 404 người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được vay vốn với số tiền 30,3 tỷ đồng. Thẩm định và thông báo cho 22 doanh nghiệp xuất khẩu lao động được phép tuyển dụng lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trên địa bàn tỉnh. Trong năm 2017 – 2018, thực hiện thành công mô hình điểm chỉ đạo, triển khai công tác xuất khẩu lao động tại huyện Long Hồ, Trà Ôn đạt và vượt kế hoạch đề ra. Triển khai thực hiện tốt công tác Chương trình quốc gia về an toàn, vệ sinh lao động giai đoạn 2016 - 2020 và triển khai tổ chức Tháng hành động về an toàn, vệ sinh lao động hàng năm. Cấp giấy phép huấn luyện an toàn lao động cho Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh Vĩnh Long. Thực hiện tốt công tác cấp phép lao động cho người nước ngoài.

Phối hợp các ngành chức năng thẩm định quỹ tiền lương kế hoạch và quỹ tiền lương thực hiện của năm trước liền kề cho 02 công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, 02 công ty có cổ phần, vốn góp chi phối của nhà nước. Phối hợp giải quyết chế độ thôi việc cho 08 người lao với kinh phí hơn 800 triệu đồng; giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội cho 10 cán bộ nghỉ việc trước năm 1995. Tổ chức tuyên truyền, phổ biến trực tiếp cho trên 300 lượt doanh nghiệp, 12.500 lượt người lao động; tuyên truyền phổ biến gián tiếp cho trên 500 lượt doanh nghiệp, 15.000 lượt lao động; tổ chức 16 cuộc tập huấn, tư vấn chính sách pháp luật về lao động cho cán bộ làm công tác tuyên truyên truyền cấp xã, cấp huyện, cấp tỉnh, người lao động và người sử dụng lao động, với 948 người tham dự; giám sát việc thực hiện chính sách pháp luật lao động của các doanh nghiệp, trong đó giám trực tiếp 311 doanh nghiệp.

Sàn Giao dịch việc làm mở 61 phiên giao dịch việc làm định kỳ vào các ngày 15 và 30 hàng tháng, có 1.913.334 lượt người truy cập qua mạng, 2.646 hồ sơ đăng ký tìm việc qua mạng, 1.715 lượt doanh nghiệp đăng ký tuyển lao động, với nhu cầu tuyển dụng 26.660 lao động; đã giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp 13.904 người, hỗ trợ học nghề 147 người, với 10.408 người có nhu cầu giới thiệu việc làm. Huấn luyện an toàn vệ sinh lao động cho 849 người. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn 3.382 người. Lao động xuất cảnh là 817 người.

2. Thực hiện chính sách ưu đãi người có công

Triển khai thực hiện tốt các chế độ, chính sách đối với các gia đình chính sách người có công với cách mạng. Tham mưu UBND tỉnh trình Ban Thường vụ tỉnh ủy ban hành Chỉ thị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hiện chế độ, chính sách ưu đãi người có công với cách mạng và phong trào "Đền ơn đáp nghĩa". Tổ chức tốt các hoạt động kỷ niệm 70 năm ngày Thương binh Liệt sỹ (27/7/1947 - 27/7/2017). Chi trả trợ cấp hàng tháng cho 319.983 lượt đối tượng người có công với số tiền gần 435 tỷ đồng; hoàn chỉnh hồ sơ đề nghị công nhận liệt sỹ tồn đọng từ năm 1995, đã được công nhận 64 liệt sĩ, đến nay cơ bản đã giải quyết xong hồ sơ liệt sĩ tồn đọng; tổng hợp danh sách trình Bộ xin cấp đổi bằng Tổ Quốc ghi công hư hỏng cho 1.446 liệt sĩ. Đề nghị Nhà nước truy tặng và phong tặng 128 Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng (BMVNAH), nâng tổng số BMVNAH được công nhận của tỉnh đến nay 2.847 BMVNAH. Hiện nay toàn tỉnh có 199 BMVNAH còn sống được các cơ quan, công ty, đơn vị, cá nhân chăm sóc, phụng dưỡng đến trọn đời.

Thực hiện điều dưỡng cho trên 11.700 lượt đối tượng người có công với cách mạng; tổ chức đưa 111 người có công đi thăm thủ đô Hà Nội; 37 người có công, cựu chiến binh thăm chiến trường xưa ở Campuchia. Vận động quỹ Đền ơn đáp nghĩa trên 18 tỷ đồng, ước đến cuối năm 2018 vận động trên 21 tỷ đồng, bình quân vận động đạt 7 tỷ đồng/năm, (kế hoạch vận động 4 tỷ đồng/năm). Hỗ trợ kinh phí xây dựng và sửa chửa 383 căn nhà tình nghĩa cho người có công, nhà cho hội viên hội cựu chiến binh với kinh phí trên 14,8 tỷ đồng (trong đó, ngân sách 6,5 tỷ đồng, còn lại từ nguồn Quỹ đền ơn đáp nghĩa các cấp và vận động). Tổ chức thăm, tặng quà Tết, lễ 27/7 hàng năm cho trên 122.000 người có công với số tiền 32,12 tỷ đồng. Phối hợp Đài Truyền hình Vĩnh Long hỗ trợ 40.000 đầu thu kỹ thuật số mặt đất cho gia đình chính sách. Đề nghị Thường trực Ban quản lý Quỹ vì người nghèo tỉnh hỗ trợ kinh phí mua BHYT vợ liệt sĩ tái giá cho 651 trường hợp. Tổ chức triển khai, tuyên truyền các chế độ chính sách đối với người có công. Thực hiện số hóa, dữ liệu hồ sơ thương binh, liệt sỹ, người có công với cách mạng; ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết chế độ, chính sách người có công.

3. Các lĩnh vực xã hội

3.1. Công tác giảm nghèo, bảo trợ xã hội

Đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Chỉ thị tăng cường chỉ đạo thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững; trình Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết quy định mức hỗ trợ dự án phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo.

Thực hiện tốt các hoạt động hỗ trợ quà tết cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội nhân dịp Tết Nguyên đán hàng năm; tổ chức thăm, tặng quà cho 150.728 lượt đối tượng, với kinh phí 45,3 tỷ đồng. Hỗ trợ 6.251 căn nhà cho hộ nghèo, với tổng số tiền hơn 227 tỷ đồng. Hỗ trợ thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, cận nghèo, hộ mới thoát nghèo đạt tỷ lệ 100%; hỗ trợ cho người nghèo điều trị bệnh. Ngoài ra, thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ khác cho hộ nghèo, hộ cận nghèo như: miễn giảm học phí, vay vốn, hỗ trợ tiền điện, trợ giúp pháp lý, tiếp cận thông tin,.. Tổng giá trị huy động, vận động hỗ trợ cho người nghèo, cận nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn được 1.112 tỷ đồng, trong đó Quỹ vì người nghèo 103 tỷ đồng, chương trình an sinh xã hội 1.009 tỷ đồng. Thực hiện tốt công tác truyền thông, thông tin về giảm nghèo, các chính sách bảo trợ xã hội và tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác giảm nghèo, bảo trợ xã hội các cấp. Kết quả giảm tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh giai đoạn 2016 - 2018 bình quân giảm 1,27%, đạt 127% kế hoạch (Nghị quyết giảm 1%/năm).

Chi trả trợ cấp thường xuyên cho 126.265 lượt đối tượng bảo trợ xã hội, tổng kinh phí trên 426,7 tỷ đồng. Nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội 490 lượt đối tượng. Hỗ trợ 450 trường hợp bị ảnh hưởng bởi thiên tai, với tổng kinh phí hỗ trợ là  3,3 tỷ đồng; Chi trợ cấp đột xuất cho 233 lượt đối tượng với số tiền là 292 triệu đồng. Tổ chức các hoạt động kỷ niệm ngày Công tác xã hội Việt Nam (25/3). Triển khai thực hiện chi trả trợ cấp bảo trợ xã hội qua hệ thống Bưu điện; Đề án nhân rộng mô hình Câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau của người cao tuổi trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016 – 2020, đến nay đã thành lập được 49 Câu lạc bộ liên thế hệ; phối hợp Hội người cao tuổi tỉnh tổ chức thăm và chúc thọ, mừng thọ 3.625 lượt người, với kinh phí 1,6 tỷ đồng đồng; đưa 11 lượt vận động viên tham gia Hội thao người khuyết tật toàn quốc, kết quả có 02 huy chương bạc, 03 huy chương đồng. Phối hợp Đài Phát thanh và Truyền hình Vĩnh Long phát học bổng Trần Đại Nghĩa và học bổng Vingroup cho 2.491 lượt em học sinh nghèo, cận nghèo, có hoàn cảnh khó khăn, với kinh phí hơn 5,5 tỷ đồng.

Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Vĩnh Long: tiếp nhận 131 đối tượng, giảm 132 đối tượng. Hiện Trung tâm đang quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng 177 đối tượng. Trung tâm đã đón tiếp 900 lượt đoàn và cá nhân đến thăm, tặng quà với tổng trị giá hơn 4,6 tỷ đồng. Tiếp nhận tại trợ trang thiết bị phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật tại Trung tâm do tổ chức Miral – Hàn Quốc tài trợ, tổng trị giá 98 triệu đồng đồng; vận động các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước tặng 390 phần quà cho người nghèo trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long với tổng trị giá 117 triệu đồng. Phòng Y tế khám và điều trị 25.164 cas. Phối họp cùng đoàn Y, Bác sĩ từ thiện tổ chức khám mắt, khám răng các đối tượng tại Trung tâm. Tổ chức bàn giao 27 trẻ em đi làm con nuôi trong nước và ngoài nước. Phối hợp tổ chức trao 527 con bò giống cho các hộ nghèo trong tỉnh, với kinh phí hơn 9,1 tỷ đồng. Duy trì và thực hiện các Dự án do các tổ chức trong và ngoài nước tài trợ tại Trung tâm và ngoài cộng đồng. Triển khai thực hiện tốt 06 mô hình hỗ trợ, chăm sóc đối tượng bảo trợ xã hội, yếu thế tại Trung tâm. Phối hợp tổ chức cấp học bổng cho 933 lượt em học sinh nghèo có nguy cơ bỏ học trên địa bàn tỉnh, với số tiền gần 1,3 tỷ đồng.

3.2. Công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em; bình đẳng giới

          Trình UBND tỉnh ban hành các chương trình bảo vệ chăm sóc trẻ em giai đoạn 2015 – 2020; Đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh trình Ban thường vụ Tỉnh ủy ban hành Chỉ thị về "tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long". Tham mưu Ủy Ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 13-CT/TU ngày 17/7/2017 của Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long.

          Tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến cho cộng đồng, gia đình, trẻ em hiểu về mối nguy hiểm và hậu quả của các hành vi gây tổn hại, xâm hại trẻ em; thực hiện cung cấp thông tin, trang bị kiến thức, kỹ năng phòng ngừa; xây dựng môi trường an toàn, lành mạnh và phù hợp trẻ em; phát động và hướng dẫn 109/109 xã, phường, thị trấn đăng ký thực hiện ngôi nhà an toàn cho trẻ em; xây dựng xã phường phù hợp với trẻ em; Thực hiện tốt công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, khuyết tật, bị bỏ rơi tại các cơ sở bảo trợ xã hội. Thực hiện tốt công tác thăm và tặng quà cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em nghèo, cận nghèo nhân dịp Tết Nguyên đán, Tháng hành động vì trẻ em, Tết Trung thu…v…v; vận động các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước hỗ trợ quà, học bổng, phẫu thuật miễn phí, thực hiện mua bảo hiểm y tế cho 100% trẻ em dưới 6 tuổi, 100% số trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi được các cơ sở bảo trợ xã hội tiếp nhận nuôi dưỡng, chăm sóc. Tạo điều kiện cho trẻ em tham dự Diễn đàn trẻ em các cấp, tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao; tổ chức 232 lớp dạy bơi có 9.150 em tham dự.

          Tổng giá trị thực hiện công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em giai đoạn 2016 đến 6 tháng đầu năm 2018 là 73,5 tỷ đồng, trong đó ngân sách Trung ương hỗ trợ là 646 triệu đồng, ngân sách tỉnh 9,7 tỷ đồng, nguồn vận động hơn 63 tỷ đồng.

          Giai đoạn 2016 đến nay, có 1.336 trẻ em vi phạm pháp luật (trong đó, vi phạm về trật tự an toàn giao thông 1.253 em); có 2.194 trẻ em bị tai nạn thương tích, trong đó tử vong 48 trẻ em (đuối nước: 41 trường hợp, điện giật 03 trường hợp, tai nạn giao thông 02 trường hợp, ngạt thức ăn 01 trường hợp, tự sát 01 trường hợp).

Các chỉ tiêu thực hiện hoạt động giảm khoảng cách về giới ở các lĩnh vực đạt tỷ lệ cao, được duy trì và có kết quả thực hiện tăng hàng năm, nhất là các chỉ tiêu trong mục tiêu bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động, việc làm. Thực hiện tốt công tác tập huấn, tuyên truyền về bình đẳng giới và vì sự tiến bộ phụ nữ trên toàn tỉnh; triển khai tốt Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới. Duy trì và thực hiện tốt mô hình Câu lạc bộ phòng chống bạo lực trên cơ sở giới tại xã Hoà Lộc, huyện Tam Bình và xã Thuận An, thị xã Bình Minh. Thực hiện tốt Dự án hỗ trợ giáo dục, phát triển đối với phụ nữ khó khăn, trẻ em gái và nạn nhân buôn bán người tại thị xã Bình Minh do tổ chức Hope Unending Inc hỗ trợ.

          3.4. Công tác phòng, chống tệ nạn xã hội; cai nghiện ma túy

Đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh trình Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Chỉ thị tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng chống ma túy, quản lý sau cai nghiện ma túy và hỗ trợ người sau cai nghiện tái hòa nhập cộng đồng; đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân ban hành Nghị quyết quy định mức đóng góp, chế độ miễn cho người cai nghiện ma túy bắt buộc tại cộng đồng; Nghị quyết qui định chế độ đặc thù đối với công chức, viên chức và người lao động của Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Long.

Phối hợp Công an tỉnh đảm bảo an ninh trật tự và trang bị, quản lý sử dụng công cụ hỗ trợ cho Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh; sơ kết thực hiện Đề án đổi mới công tác cai nghiện ma túy và quy chế phối hợp lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tổ chức tốt công tác tập huấn, tuyên truyền về phòng, chống tệ nạn mại dâm trên địa bàn tỉnh. Đội kiểm tra liên ngành phòng chống tệ nạn mại dâm của tỉnh đã tổ chức kiểm tra hành chính 56 đợt tại 246 cơ sở, triệt xóa 22 cơ sở.

Cơ sở Cai nghiện ma túy tiếp nhận và quản lý 857 lượt học viên, giải quyết cho ra khỏi Cơ sở 703 lượt học viên; hiện Cơ sở đang quản lý 154 học viên. Thực hiện cắt cơn giải độc cho 813 học viên, khám và điều trị bệnh thông thường 17.665 lượt đối tượng, chuyển tuyến điều trị 221 lượt; tổ chức dạy nghề và cấp chứng chỉ cho 80 học viên. đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh, các ngành chức năng đầu tư cơ sở vật chất, sửa chữa nâng cấp cơ sở hạ tầng như xây dựng Khu hành chính; hệ thống xử lý nước thải, sữa chữa nhà ăn, nhà ở học viên; xây dựng hàng rào cách ly từng Khu, lắp đặt hệ thống camera quan sát toàn khu với kinh phí 10,5 tỷ đồng. Tăng cường công tác lãnh đạo đảm bảo an ninh trật tự nội trại, đặc biệt vào ngày 03/11/2017, bằng nhiều giải pháp đồng bộ, kết hợp sự hỗ trợ các đơn vị phối hợp và chính quyền địa phương tiến hành tổng kiểm tra đồng loạt các phòng ở của học viên, thu giữ nhiều vật cấm và vật dụng bén nhọn tự chế. Đến nay, tình hình an ninh trật tại Cơ sở đã ổn định và các hoạt động đi vào nề nếp.

          4. Công tác thanh, kiểm tra

Tổ chức được 02 cuộc thanh tra hành chính, gồm: 01 cuộc thanh thanh tra việc thực hiện chức năng nhiệm vụ được giao đối với Cơ sở cai nghiên ma túy và 01 cuộc thanh tra Phòng chống tham nhũng đối với Chi cục Phòng chống tệ nạn xã hội tỉnh Vĩnh Long. Tổ chức được 14 cuộc thanh tra chuyên ngành gồm: thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực bảo trợ xã hội; an toàn lao động đối với công trình xây dựng trọng điểm trên địa bàn tỉnh; 01 cuộc kiểm tra chuyên ngành trong lĩnh vực đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo đề án 1956. Tiếp nhận 48 đơn thư khiếu nại, tố cáo, trong đó, đơn thuộc thẩm quyền giải quyết 11 đơn; không thuộc thẩm quyền 37 đơn đã hướng dẫn, chuyển đơn đến các cơ quan chức năng giải quyết theo đúng quy định.

5. Công tác khác

Thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho công chức, viên chức và người lao động của ngành. Kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy của cơ quan; tinh giản 04 biên chế (02 công chức; 02 viên chức); thực hiện tốt công tác điều động, bổ nhiệm cán bộ.

Thực hiện rà soát, thống kê trình Ủy ban nhân dân ban hành 08 quyết định công bố 126 thủ tục hành chính của 03 cấp chính quyền (cấp xã, huyện, tỉnh) thuộc lĩnh vực Lao động Thương binh và Xã hội trên địa bàn tỉnh. Tập trung lãnh chỉ đạo thực hiện số hóa các số liệu cơ bản của ngành, đến nay cơ bản các dữ liệu về lĩnh vực dạy nghề, việc làm đã chạy trực tuyến, được khai thác sử dụng từ cấp tỉnh đến cấp cơ sở; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong cải cách hành chính.

Triển khai thực hiện tốt công tác xây dựng cơ bản của ngành, đầu tư nâng cấp Nghĩa trang liệt sỹ tỉnh Vĩnh Long, Nghĩa trang liệt sỹ huyện Tam Bình, huyện Vũng Liêm, Long Hồ, Mang Thít, Trà Ôn; xây dựng công trình thực hiện mô hình phòng và trị liệu rối nhiễu tâm trí cho người tâm thần dựa vào cộng đồng tại Trung tâm Công tác xã hội; xây dựng nấng cấp Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh; Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên thành phố Vĩnh Long; Trung tâm công tác xã hội tỉnh (khu 1: Trung tâm chăm sóc người già neo đơn, tạm lánh và trẻ em mồ côi; khu 2: Trung tâm chăm sóc phụ hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí đưa vào cộng đồng) với tổng kinh phí 122,5 tỷ đồng.

Ngành Lao động Thương binh và xã hội tập trung thực hiện  các nhiệm vụ, giải pháp từ nay đến năm 2020:

1. Công tác dạy nghề, việc làm - an toàn lao động, lao động tiền lương - bảo hiểm xã hội

Tích cực tham mưu Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành các chính sách phát triển công tác giáo dục nghề nghiệp, như: Quy chế quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp, chính sách xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp. Tăng cường công tác hướng dẫn các cơ sở giáo dục nghề nghiệp thực hiện tuyển sinh và đào tạo, trong đó đẩy mạnh công tác phân luồng học sinh học nghề. Thực hiện tốt công tác quy hoạch phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp, thực hiện chuyển đổi các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập sang hoạt động theo cơ chế tự chủ; khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư, liên doanh, liên kết trong giáo dục nghề nghiệp. Nâng cao vai trò quản lý và triển khai thực hiện Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đối với BCĐ thực hiện Đề án 1956 xã, phường, thị trấn và các hội đoàn thể tại địa phương; thực hiện lồng ghép các chương trình, dự án, đề án vào công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn để nâng cao hiệu quả thực hiện.

Tiếp tục triển khai thực hiện tốt công tác thông tin cung - cầu lao động; duy trì, đẩy mạnh hoạt động kết nối, thông tin thị trường lao động trên địa bàn tỉnh. Tăng cường huy động sự tham gia của lực lượng cán bộ các ban ngành đoàn thể, đội ngũ cộng tác viên ở cơ sở để thực hiện công tác truyền thông, tuyên truyền phổ biến các thông tin, triển khai thực hiện các chính sách về việc làm, xuất khẩu lao động đến nhân dân và người lao động. Đẩy mạnh mở rộng thị trường xuất khẩu lao động, thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động; tăng cường công tác quản lý lao động đi làm việc ở nước ngoài; quản lý chặt chẽ doanh nghiệp, công ty xuất khẩu lao động; tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật của nước tiếp nhận lao động Việt Nam nhằm hạn chế tình trạng người lao động bỏ trốn, vi phạm pháp luật khi tham gia xuất khẩu lao động. Tổ chức sơ kết đánh giá hiệu quả thực hiện Nghị quyết số 37/2016/NQ-HĐND của HĐND tỉnh về chính sách cho vay vốn hỗ trợ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2016 - 2020. Xây dựng Đề án khai thác, sử dụng và thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp của lực lượng lao động đi xuất khẩu lao động trở về nước.

Nâng cao năng lực hoạt động của Trung tâm dịch vụ việc làm tỉnh Vĩnh Long; xây dựng kế hoạch tiến tới tự chủ hoàn toàn về kinh phí; tăng cường công tác đưa lao động đi xuất khẩu có thời hạn ở nước ngoài; đào tạo nghề; huấn luyện về an toàn lao động; sắp xếp, tổ chức bộ máy cán bộ thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp đảm bảo gọn, nhẹ. Phối hợp chặt chẽ với các cấp ban ngành đoàn thể, các địa phương và hệ thống Ngân hàng chính sách xã hội triển khai thực hiện tốt Đề án cho vay hỗ trợ việc làm, duy trì và mở rộng việc làm giai đoạn 2018 - 2020 trên địa bàn tỉnh. Tổ chức kiểm tra giám sát thực hiện các dự án hoạt động thuộc chương trình việc làm. Tổ chức sơ, tổng kết, đánh giá mô hình hỗ trợ thúc đẩy giải quyết việc làm cho người lao động gắn với thực hiện Đề án "Sinh kế giảm nghèo" tại 02 xã Trung Hiếu và Hiếu Nghĩa huyện Vũng Liêm. Thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp, an toàn lao động trên địa bàn tỉnh. Tổ chức thực hiện tốt các hoạt động nâng cao năng lực công tác an toàn vệ sinh lao động, trong đó có các hoạt động hưởng ứng Tháng hành động về an toàn, vệ sinh lao động năm 2018 trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long.

Thực hiện tốt công tác hỗ trợ doanh nghiệp, nâng sự hài lòng của doanh nghiệp đối với việc thực hiện các thủ tục hành chính của ngành, góp phần nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh. Tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước liên quan đến người sử dụng lao động và người lao động; hỗ trợ người lao động để nắm vững các chính sách pháp luật của nhà nước, cũng như hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của người lao động khi tham gia lao động. Tiếp tục rà soát, sửa đổi bổ sung, đơn giản hóa, minh bạch các thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực việc làm; quản lý chặt chẽ theo quy định pháp luật; hướng dẫn, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp thực hiện đăng ký, xin cấp phép sử dụng lao động người nước ngoài thông quan mạng điện tử.

2. Thực hiện chính sách người có công

Tiếp tục phối hợp với các cấp các ngành liên quan, các địa phương triển khai thực hiện tốt, đảm bảo đầy đủ kịp thời các chế độ chính sách cho người có công: Tập trung phối hợp cơ bản giải quyết dứt điểm hồ sơ người có công tồn đọng; Giải quyết các hồ sơ đề nghị chế độ chính sách mới phát sinh, các yêu cầu, kiến nghị của nhân dân về chế độ, chính sách đối với người có công kịp thời và đúng quy định. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện Đề án tìm kiếm, quy tập và xác định hài cốt còn thiếu thông tin. Nâng cấp các công trình ghi công liệt sĩ bảo đảm ổn định, lâu dài, phát huy tính giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ. Ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết hồ sơ nhanh chóng; tiếp tục cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong giải quyết hồ sơ Người có công.

Thực hiện tốt công tác đưa người có công điều dưỡng tập trung và điều dưỡng tại gia đình. Tổ chức đưa đoàn Người có công, Bà mẹ Việt Nam anh hùng, thương binh, thân nhân liệt sĩ, người có công tiêu biểu đi tham quan Thủ đô Hà Nội viếng Lăng Bác. Tổ chức tốt thăm viếng, tặng quà cho người có công vào dịp Tết Nguyên Đán, kỷ niệm ngày Thương binh liệt sỹ 27/7 hàng năm. Thực hiện tốt việc chỉnh trang các nghĩa trang liệt sĩ và tổ chức tiếp đón chu đáo các đoàn viếng của Tỉnh ủy, UBND tỉnh và các ban ngành, thân nhân gia đình liệt sĩ đến thăm viếng nghĩa trang.

Xây dựng kế hoạch, phối hợp triển khai thực hiện tốt công tác vận động đóng góp Quỹ đền ơn đáp nghĩa. Triển khai, phối hợp các địa phương thực hiện tốt việc xây dựng, sửa chữa nhà ở cho người có công, triển khai thực hiện dứt điểm khi được Trung ương hỗ trợ kinh phí. Phối hợp huy động các nguồn lực xã hội hóa để chăm lo, hỗ trợ nâng cao đời sống của người có công và thân nhân, trong đó có hỗ trợ về nhà ở, học bổng, cho vay vốn sản xuất, chữa bệnh ..v..v.. Tiếp tục triển khai mô hình hỗ trợ nâng cao đời sống người có công, sơ kết, đánh giá rút kinh nghiệm.

Thường xuyên tập huấn nghiệp vụ công tác giải quyết chế độ chính sách đối với người có công cho đội ngũ cán bộ các cấp. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến thông tin về chính sách đối với người có công thông qua tổ chức biên soạn sổ tay, tờ rơi, tài liệu tuyên truyền phổ biến đến cấp xã, phường, thị trấn và người dân; Phối hợp tổ chức các chương trình, chuyên mục tuyên truyền về chính sách người có công trên đài phát thanh truyền hình, báo chí ..v..v..

3. Các lĩnh vực xã hội

3.1. Công tác giảm nghèo, bảo trợ xã hội

Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, tạo sự đồng thuận và phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, sự đồng tâm, hiệp lực của toàn xã hội trong triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020; tổ chức thực hiện tốt phong trào thi đua "Cả nước chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau"

Triển khai thực hiện đầy đủ và kịp thời các chính sách an sinh xã hội, đặc biệt là chính sách trợ cấp xã hội thường xuyên và đột xuất đối với các đối tượng bảo trợ xã hội, đối tượng bị thiên tai; chính sách hỗ trợ người nghèo, cận nghèo về nhà ở, giáo dục, y tế, cơ sở hạ tầng và các dịch vụ công ích,… Tăng cường sự phối hợp giữa các ban, ngành, đoàn thể các cấp hỗ trợ tạo sinh kế cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo thông qua dự án phát triển sản xuất, nhân rộng mô hình giảm nghèo dựa trên quy hoạch sản xuất, đề án chuyển đổi cơ cấu sản xuất của địa phương; thu hồi, luân chuyển vốn nhân rộng dự án phát triển sản xuất, mô hình giảm nghèo cho nhiều hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo khác được tham gia…góp phần giảm 1% tỷ lệ hộ nghèo theo Nghị quyết đề ra. Tiếp tục thực hiện hỗ trợ nhà ở hộ nghèo theo Quyết định 33/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Tổ chức thực hiện kế hoạch đa dạng sinh kế, thoát nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh. Duy trì thực hiện có hiệu quả và hân rộng câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau của người cao tuổi trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016 - 2020.

Tăng cường tuyên truyền các chính sách về giảm nghèo, trợ giúp xã hội sâu rộng nhằm thay đổi và chuyển biến nhận thức các cấp, các ngành và người dân; vận động người nghèo, cận nghèo vươn lên thoát nghèo, không trông chờ ỷ lại vào các chính sách Nhà nước; có chính sách đặc thù, khen thưởng nhằm khuyến khích, động viên hộ thoát nghèo không tái nghèo; tôn vinh doanh nghiệp, tập thể có nhiều đóng góp về nguồn lực, cách làm hiệu quả trong công tác giảm nghèo. Đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực cán bộ làm công tác giảm nghèo và công tác xã hội theo hướng chuyên nghiệp, có kiến thức, kỹ năng trong thực hiện chương trình giảm nghèo và chính sách trợ giúp xã hội. Thực hiện tốt công tác điều tra, rà soát và phân loại hộ nghèo, hộ cận nghèo đảm bảo đúng quy trình, đúng đối tượng, khách quan, dân chủ, công khai và công bằng. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá công tác giảm nghèo các cấp và việc thực hiện chính sách trợ giúp xã hội.

Trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành định mức khung giá dịch vụ trợ giúp xã hội nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận và thụ hưởng dịch vụ trợ giúp xã hội. Thực hiện xã hội hóa các hoạt động công tác xã hội theo hướng khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng cung cấp dịch vụ công tác xã hội và hỗ trợ đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho cở sở trợ giúp xã hội nhằm chăm sóc đối tượng được tốt hơn.

Chuẩn bị các điều kiện cần thiết như: thiết bị, cơ sở vật chất, nhân sự để đưa Trung tâm Công tác xã hội (khu 1: Trung tâm chăm sóc người già neo đơn, tạm lánh và trẻ em mồ côi; khu 2: Trung tâm chăm sóc phụ hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí đưa vào cộng đồng) vào hoạt động. Trung tâm Công tác xã hội sắp xếp, tổ chức bộ máy của Trung tâm theo Thông tư số 33/2017/TT-BLĐTBXH, ngày 29/12/2017 của Bộ Lao động – Thương binh và xã hội. Triển khai và thực hiện tốt Đề án "Chăm sóc và nuôi dưỡng người cao tuổi tự nguyện, tự đóng góp kinh phí vào sống tại Trung tâm"; Đề án chương trình đào tạo sơ cấp Công tác xã hội; Đề án Công tác xã hội trong trường học và mô hình " Ngôi nhà bình yên"; đưa vào sử dụng có hiệu quả 02 phòng học mẫu giáo gắn với thư viện đồ chơi tại Trung tâm. Thực hiện có hiệu quả mô hình lao động trị liệu cho các đối tượng đang được nuôi dưỡng tại Trung tâm: Mô hình sản xuất xà bông, mô hình trồng rau thủy canh, đan ghế nhựa, trồng nấm bào ngư. Phối hợp với Công ty Sao việt đào tạo sơ cấp điều dưỡng để đưa lao động hợp tác có thời hạn tại Nhật bản.

3.2. Công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em; Bình đẳng giới

Tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh Đề án sáp nhập hai chức danh cán bộ trẻ em và cộng tác viên công tác xã hội; củng cố nhân sự và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ trẻ em, cộng tác viên công tác xã hội, trong đó đề xuất chế độ nhằm xây dựng và ổn định đội ngũ cán bộ trẻ em cấp xã; khai thác, sử dụng có hiệu quả phần mềm quản lý trẻ em.

Tiếp tục triển khai tổ chức các hình thức truyền thông công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em như tuyên truyền, tập huấn trực tiếp cho cán bộ các cấp và người dân, thông qua các cơ quan báo, đài ở cấp tỉnh, huyện và hệ thống thông tin cấp xã,.... nhằm tiếp tục tạo chuyển biến trong nhận thức và hành động, chuyển đổi hành vi về bảo vệ chăm sóc trẻ em và bình đẳng giới trong gia đình, cộng đồng và xã hội. Bằng nhiều giải pháp kéo giảm tai nạn thương tích và tử vong do đuối nước và tai nạn giao thông; xây dựng mô hình phòng ngừa trợ giúp trẻ em bị xâm hại, bạo lực nhằm kéo giảm tình trạng xâm hại tình dục và bạo lực trẻ em. Tăng cường tập huấn nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em và bình đẳng giới, nhất là đội ngũ cán bộ cấp cơ sở.

Ngoài nguồn ngân sách nhà nước, tăng cường phối hợp với các cấp các ngành vận động thêm nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để hỗ trợ cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn như: tặng quà vào đầu năm học mới, hỗ trợ học bổng, trang bị dụng cụ học tập ..v..v.., trong đó có tập trung tuyên truyền, kêu gọi, vận động tài trợ cho Quỹ Bảo trợ trẻ em của tỉnh; Tổ chức quản lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài trợ cho Quỹ Bảo trợ trẻ em nhằm hỗ trợ kịp thời cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn trên địa bàn tỉnh. 

3.3. Công tác phòng chống tệ nạn xã hội; cai nghiện ma túy

Phối hợp chặt chẽ với các ban ngành, đoàn thể có liên quan, các địa phương để triển khai, tổ chức thực hiện đầy đủ và có hiệu quả các Đề án, kế hoạch, nhiệm vụ công tác phòng, chống tệ nạn xã hội trên địa bàn tỉnh đã được UBND tỉnh phê duyệt. Thực hiện đa dạng các hình thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức về phòng, chống ma túy, mại dâm, tệ nạn mua bán người; Chú trọng tuyên truyền cho các đối tượng học sinh, sinh viên, công nhân lao động tại các khu công nghiệp, phụ nữ nông thôn.

Phối hợp thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm xây dựng xã, phường, thị trấn lành mạnh không có tệ nạn ma túy, mại dâm; kéo giảm số lượng xã, phường, thị trấn có tệ nạn. Tiếp tục hướng dẫn, hỗ trợ các địa phương thực hiện tốt các công tác phòng, quản lý cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng như: tiếp tục tổ chức tốt các mô hình hoạt động tư vấn, hỗ trợ cai nghiện ma túy ở xã Song Phú, huyện Tam Bình, phường Cái Vồn, thị xã Bình Minh; hỗ trợ người nghiện học nghề, tạo việc làm và tiếp cận các dịch vụ trợ giúp xã hội khác…. Thường xuyên tổ chức kiểm tra, đánh giá, thống kê tình hình người nghiện ma túy đang quản lý sau cai. Chú trọng hỗ trợ, tăng cường công tác quản lý nhà nước để Cơ sở Cai nghiện ma túy của tỉnh hoạt động có hiệu quả theo loại hình cơ sở điều trị nghiện đa chức năng.

Tham mưu Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh có chính sách hỗ trợ người sau cai nghiện ma túy tái hòa nhập cộng đồng; phối hợp các ngành, các cấp tăng cường công tác quản lý sau cai tại cộng đồng; xây dựng, triển khai thực hiện sinh kế bền vững cho người sau cai nghiện (hỗ trợ vốn, dạy nghề, tạo việc làm). Tăng cường công tác tuyên truyền chống kỳ thị đối với người nghiện ma túy. Xây dựng các mô hình giảm thiểu ma túy.

Tập huấn nâng cao năng lực cho thành viên Tổ công tác cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng; Đội công tác xã hội tình nguyện tại xã, phường, thị trấn và những người trực tiếp tham gia công tác điều trị nghiện; kết hợp tập huấn nâng cao năng lực tuyên truyền, tư vấn hỗ trợ hướng dẫn cộng đồng về phòng, chống mại dâm, tệ nạn mua bán người.

Thường xuyên kiểm tra các cơ sở kinh doanh dịch vụ dễ bị lợi dụng hoạt động mại dâm; đấu tranh, triệt xoá các tụ điểm, tội phạm liên quan đến hoạt động mại dâm và xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm pháp luật về phòng, chống mại dâm.  Phối hợp triển khai các biện pháp hỗ trợ kịp thời cho các nạn nhân bị mua bán trở về như: trợ cấp khó khăn, hỗ trợ y tế, học văn hóa, học nghề, trợ giúp pháp lý miễn phí ..v..v..

Cơ sở cai nghiện ma túy xây dựng triển khai thực hiện phương án sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy theo tinh thần Nghị quyết số 19-NQ/TW của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 6 Khóa XII để thực hiện công tác quản lý, tư vấn, điều trị bệnh cho người nghiện ma túy đạt hiệu quả trong thời gian tới. Tăng cường đầu tư mua sắm trang thiết bị, phương tiện (y tế, dạy nghề, vui chơi giải trí, văn nghệ, thể dục thể thao,…) phục vụ công tác cai nghiện ma túy tại các Cơ sở cai nghiện và trang thiệt bị tại các điểm tư vấn chăm sóc, hỗ trợ điều trị nghiện ma túy theo Đề án đổi mới công tác cai nghiện ma túy. Đề xuất các ngành chức năng bổ sung, hoàn thiện các văn bản về lĩnh vực cai nghiện và quản lý sau cai nghiện; phối hợp chặt chẽ với các tổ chức, đoàn thể ở địa phương thực hiện tốt công tác vận động, tư vấn, quản lý người nghiện, người sử dụng ma túy trên địa bàn tỉnh góp phần đảm bảo an ninh trật tự và an toàn xã hội.

3.5. Công tác khác

Thường xuyên rà soát, cập nhật các văn bản quy phạm pháp luật; đề nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi bổ sung các thủ tục hành chính trên các lĩnh vực công tác của ngành. Tiếp tục nghiên cứu, đề xuất các chính sách, giải pháp để tạo đột phá trong thực hiện công tác lao động, người có công và xã hội trên địa bàn tỉnh.

Tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu các đơn vị trong việc đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin vào thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của ngành. Đẩy mạnh đơn giản hóa các thủ tục hành chính không hợp lý, cắt giảm, cắt bỏ các TTHC không cần thiết, gây khó khăn cho người dân, quyết tâm cải cách TTHC để phục vụ tốt hơn chức năng quản lý nhà nước của ngành.

Triển khai thực hiện Đề án sắp xếp bộ máy tổ chức của Sở trong đó sáp nhập một số phòng, đơn vị trực thuộc. Chú trọng thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, nghiệp vụ cho đội ngũ công chức, viên chức, người lao động của ngành. Tăng cường huy động nguồn lực cơ sở vật chất và các nguồn lực khác cho ngành Lao động - Thương binh và Xã hội. Thực hiện tốt công tác xây dựng cơ bản của ngành đảm bảo đúng tiến độ theo yêu cầu.

Tăng cường công tác thanh, kiểm tra thực hiện các chính sách lao động người có công và xã hội trên địa bàn tỉnh nhất là ở cấp cơ sở; thanh tra, kiểm ra việc chấp hành các chính sách pháp luật lao động của các doanh nghiệp. Giải quyết kịp thời các đơn thư, khiếu nại tố cáo./.

H. Nhi (nguồn: BC số 119/BC-SLĐTBXH)

Quay lại In bài viết

Các tin liên quan